Hoàng Tùng, Nhà Mac-Xit Số 1 Việt Nam nói ǵ?

Việt Long: ...Những điểu đó xảy ra ở thời mà Ông Hồ Chí Minh c̣n Lănh đạo đảng ?

Bùi Tín :     Vâng.

23.04.2005 - RFA

Lời giới thiệu: Gần đây trên các phương tiện truyền thông trong nước và hải ngoại có phổ biến một bài khảo luận của ông Hoàng Tùng, đảng viên kỳ cựu của Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyện gia tư tưởng của đảng trong mấy chục năm trước.

Bài viết này có nội dung ǵ đáng lưu ư? Việt Long đặt câu hỏi này với một người từng cộng tác dưới quyền của ông Hoàng Tùng lâu năm trên mặt trận tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Đại tá Quân đội Nhân dân Bùi Tín.

Mời quư vị theo dơi câu chuyện:

 

Ṭa Soạn Đối Thoại : Đối Thoại đă sao chép bài phỏng vấn từ các chương tŕnh phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm.

Trong một bài viết lấy nhan đề: Vài nhận xét về bài "Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mới" của Hoàng Tùng, cựu Đại tá Bùi Tín nhận xét: Cựu tổng biên tập báo Nhân dân Hoàng Tùng là một nhà chính trị chuyên nghiệp của ĐCSVN, từng bị tù đầy trong thời kỳ thuộc Pháp, sau Cách mạng Tháng Tám được ĐCS cử giữ nhiều trọng trách, trong đó có gần 20 năm làm tổng biên tập báo Nhân Dân.

Ở cương vị này Hoàng Tùng là người viết những bài xă luận có tính chất chỉ đạo công tác đảng trên tờ báo quan trọng nhất của bộ máy cai trị.

Bạn nghĩ ǵ về sự kiện này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Mấy năm gần đây, ông Hoàng Tùng có viết hồi kư "Những kỷ niệm về Bác Hồ" (c̣n ở dạng sơ thảo, nhưng đă cho phổ biến). Mới đây, ở Hànội lại xuất hiện một tập tài liệu dày gần 50 trang kư tên Hoàng Tùng với nhan đề "Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mới," (Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Mác), với chú thích: bản thảo đầu tiên chưa sửa - Hànội 2004.

Tài liệu này có 3 phần chính:

1) Cuộc hành tŕnh 2 5 triệu năm của nhân loại
2) Chủ nghĩa Mác vào cuộc
3) Bài học
 

Trong phần thứ nhất, tác giả phác họa lại lịch sử tiến hoá của nhân loại theo đúng tinh thần và lời văn trong các sách giáo khoa xă hội chủ nghĩa. Phần thứ hai, nói về chủ nghĩa Mác và sự h́nh thành trào lưu cộng sản thế giới.

Bài viết của Hoàng Tùng có ư nghĩa nhất định ở chỗ nó nói lên nhận thức hiện nay của một viên chức cao cấp bậc nhất trong bộ máy cầm quyền của ĐCS, của một chuyên gia thượng thặng về lư thuyết Mác, về số phận và tương lai của chủ nghĩa Mác sau cuộc sụp đổ của Liên bang Xô Viết và phe xă hội chủ nghĩa.

Thực tế đă điều chỉnh đôi chút nhận thức của nhà mác-xít Hoàng Tùng khi ông rút ra bài học:

"Sự can thiệp của con người không thể phá bỏ quy luật, một chế độ kinh tế xă hội chỉ có thể thay đổi do sự phát triển đến hạn của kỹ thuật sản xuất và một nền văn hoá phù hợp. Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực, song [cái thay đổi ấy] cũng có giới hạn, quá khứ sẽ giành lại nếu đi quá xa. Tuân theo qui luật vận động khách quan không phải là sùng bái sự tự phát. Thoát ly, bất chấp qui luật vận động khách quan th́ cái giá phải trả rất cao, dẫn đến những thảm hoạ lịch sử. Cũng có những cơ hội tạo ra được những bước ngoặt đi lên, con người phải sẵn sàng tranh thủ nhưng không thể đi xa khỏi giới hạn."

Tất cả giá trị của bài viết có lẽ là ở kết luận ấy: "Chớ đi ngược lại các quy luật thiên nhiên và xă hội!" Gần đây, nhiều học giả phương Tây đă đi tới một nhận định chung rằng chủ nghĩa Mác tuy có ư nghĩa nhân văn trong mục đích xoá bỏ tệ người bóc lột người, xây dựng thế giới đại đồng trong đó mọi thành viên đều b́nh đẳng, nhưng lại chứa đựng nhiều ảo tưởng chủ quan không khoa học, biện pháp đấu tranh lại trái ngược với mục đích nói trên. Quan điểm đấu tranh giai cấp như động lực của tiến hoá, cũng như chuyên chính vô sản, được dung tục hoá bởi những học tṛ yếu kém về trí tuệ và thảm hại về nhân cách đă gây ra những thảm hoạ cho một bộ phận của nhân loại. Tội ác chồng chất được phanh phui sau khi hệ thống xă hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ đă xoá bỏ hoàn toàn hào quang của mục đích mà Mác theo đuổi, chứng minh hùng hồn rằng chính chủ nghĩa Mác và sự ứng dụng nó là "một sự ngộ nhận khổng lồ" và là "một tai họa khủng khiếp trong lịch sử nhân loại."

Khác với các đồng nghiệp thuộc thế hệ nối tiếp cho đến hôm nay vẫn c̣n kiên tŕ chủ nghĩa Mác-Lênin "xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa," Hoàng Tùng đă nh́n ra những nguyên nhân sinh ra những khuyết điểm và thiếu sót của chủ nghĩa xă hội hiện thực, thấy được t́nh h́nh thực tế là giai cấp công nhân hiện đại trong các nước tư bản phát triển không theo chủ nghĩa Mác, giai cấp vô sản thế giới dửng dưng với lời kêu gọi "vô sản toàn thế giới liên hiệp lại," mà chỉ có các nước phong kiến thuộc địa lạc hậu đi theo chủ nghĩa Mác mà thôi.

Bài viết của nhà lư luận Hoàng Tùng cũng chứa đầy những mâu thuẫn không thể điều hoà. Ông vẫn c̣n bị quá khứ cầm tù; nói xuôi rồi lại nói ngược; tự ḿnh phủ định ḿnh. Đến đầu thế kỷ 21, ông vẫn nh́n cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như công việc của một đảng cộng sản, vẫn khẳng định: "chưa có học thuyết nào hơn học thuyết Mác" (!). Để rồi cao ngạo chỉ ra rằng tư tưởng mới trong thời đại mới phải dựa trên giá trị của trí tuệ mới, bằng tư duy mới... Và tất cả những cái đó phải được xây dựng trên nền tảng của... tư tưởng Hồ Chí Minh!

 

Việt Long:Thưa ông Bùi Tín, mới đây một nhân vật rất quan trọng về tư tưởng của ĐCSVN là ông Hoàng Tùng cũng là người mà ông đă hết sức thân cận và cộng tác trong một thời gian dài khi ông c̣n là đảng viên ĐCSVN, vừa đưa ra một bài viết gây sôi nổi trong dư luận trong đảng cũng như ngoài nước. Ông vui ḷng tŕnh bày sơ lược về những điều mà ông Hoàng Tùng tŕnh bày trong tài liệu đó.

Bùi Tín: Ông Hoàng Tùng được coi như là một nhà Marxist số một của chế độ hiện nay ở trong nước, bởi v́ từ lâu đă cùng với ông Tố Hữu nắm chặt Ban Tuyên Huấn từ trước của đảng tức là Ban Tư Tưởng Văn Hóa hiện nay. Lại hơn 20 năm làm tổng biên tập của báo Nhân Dân, là người thường xuyên viết những xă luận của báo Nhân Dân. Mấy năm gần đây ông ta về nghỉ hưu...

Việt Long: Trước đây chắc ông cũng chịu sự chỉ đạo rất chặc chẽ của ông Ḥang Tùng...

Bùi Tín: Vâng, tôi làm phó cho ông một thời gian khá lâu, tôi hàng ngày làm việc với ông. Ông ta được coi như là một nhà lư luận, nhà Marxist số một.

Việt Long: Tại sao gần đây có vẻ như ông ta thay đổi tư tưởng a.?

Bùi Tín: Bởi v́ ông nghỉ từ sau đại hội 8, ông cũng nhiều tuổi, gần 90 rồi. Do đó ông nghỉ, lúc bấy giờ có qui định là quá 70 th́ không c̣n cương vị lănh đạo nữa.  Mấy năm nay ông viết những bài luận văn về những kỷ niệm khi sống với chủ tịch HCM. Thế mà năm nay ông lại đưa ra một bài rất là đặc sắc. Đặc sắc tức là một bài vừa dài nêu rơ lịch sử của chủ nghĩa Marx ra làm sao, chủ nghĩa Marx trong thế kỷ 20 như thế nào. Tại làm sao nó đă hoành hành, gây thắng lợi lớn như thế và đồng thời tại sao nó sụp đổ một cách tanh bành như thế. Tôi nghĩ cái lư thú ở nhà Marxist số một này là sau khi qua những nghiền ngẩm, sau khi qua những thực tế những năm qua th́ ông ta phải thức nhận những điều mà trước kia ông ta không bao giờ nghĩ đến. Đấy là thất bại của chủ nghĩa Marx.

Trong bài này đáng chú ư là ông đă công nhận rằng Marx đă viết thế này cho giai cấp vô sản của những nước công nghiệp phát triển. Nhưng mà chính giai cấp vô sản ở các nước công nghiệp ở các nước phát triển lại không chấp nhận, không ứng dụng, không thực hiện chủ nghĩa Marx. Mà chỉ những nước lạc hậu như nước Nga, chính nước lạc hậu như Trung Quốc, chính nước phong kiến như là Việt Nam lại đi chấp nhận cái chủ nghĩa Marx. Do đó điều đáng tiếc xảy ra là đă giải thích hoàn toàn trái với những điều Marx nói, do đó chủ nghĩa Marx nó đă biến h́nh thành chủ nghĩa cực đoan thành chủ nghĩa tả khuynh và dẫn đến trên thực tế là một chủ nghĩa phi nhân tín.

Việt Long: Chính v́ vậy mà những nước sau này như ông đă nói đă dùng chủ nghĩa Marx th́ người ta gọi đó là chủ nghĩa Marx-Lenin, là kèm theo đường lối cách mạng của Lenin vào đúng không ạ?

Bùi Tín: Đúng đấy. Điều mà ông nói rất đúng ông Hoàng Tùng đấy, là trên thực tế chủ nghĩa Marx không những chỉ là chủ nghĩa Lenin đă được giải thích, mà lại là chính là chủ nghĩa Stalin. Bởi v́ Stalin tự nhận là người có quyền duy nhất giải thích Marx và Lenin. Thế mà sang đến Việt Nam lại thông qua chủ nghĩa Mao nữa, mà chủ nghĩa Mao th́ nó chính là chủ nghĩa Marx, không c̣n là chủ nghĩa Marx trực tiếp nữa mà thành ra là chủ nghĩa Marx tiểu nông, của nông dân. Do đó mà dẫn đến thất bại

Việt Long: Thưa ông, khi qua đến Việt Nam th́ chủ nghĩa Marx Lenin và chủ nghĩa Mao kết hợp lại thành tư tưởng HCM. Ông Hoàng Tùng có nói ǵ đến tư tưởng HCM không?

Bùi Tín: Ổng chỉ nói có một câu cuối cùng, tức là cuối cùng chỉ c̣n có giá trị là tư tưởng HCM. Thật ra ông HCM đă bao nhiêu lần nói rằng "tôi không có tư tưởng ǵ hết, may lắm tôi chỉ có 'tác phong' thôi, mà tác phong đây tôi cũng chỉ học trong sách vở của thời xưa thôi, tức là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư". Những thứ đó là đạo đức của thời phong kiến thôi. Cho nên ông HCM cũng nói là bao nhiêu tư tưởng là Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông đă nói hết rồi, tôi không có ǵ để lư luận về tư tưởng hết.

Việt Long: Thành ra tư tưởng HCM ở trong nước bây giờ vẫn đang đề cao vẫn đang tôn thờ... th́ hóa ra là một chủ nghĩa, tư tưởng, hay có thể nói là một vật thánh mà chính ông HCM lại không nhận là của ḿnh, mà lại do những đảng viên trung kiên về sau này dựng lên phải không ạ?

Bùi Tín: Vâng. Hoàn toàn một cái người ta gọi là  tưởng tượng lại mà ông HCM tự nhận là ḿnh không có, thành ra chỉ là một bài vị để họ chính thức hóa sự lănh đạo, sự tiếm quyền của họ mà thôi. Cho nên đă phải chấp nhận rằng là do ứng dụng ở VN mà có những lệch lạc mà là lệch lạc ghê gớm. Bây giờ là tư tưởng của tiểu nông, tư tưởng ác độc, do đó mà sai lầm cải cách ruộng đất... Ông nói đến cả do cái độc quyền của một đảng cho nên sai lầm cứ chồng chất lên măi không có cách ǵ để sữa sai. Sủua sai này đến sai lầm khác cứ chồng chất lên nhau cho đến bây giờ.

Việt Long: Hóa ra lư do chính là bởi v́ độc quyền độc đảng.

Bùi Tín: Vâng. Cái hay nữa, cái lư thú là kết luận cuối cùng của ông Hoàng Tùng là đ̣i hỏi sau khi đă đổi mới về kinh tế việc cấp bách bây giờ là phải tự do về chính trị, phải đổi mới về chính trị, phải dân chủ hóa về chính trị, phải hé ra và đi đến con đường dân chủa đa nguyên

Việt Long: Nhưng cuối cùng th́ ông Hoàng Tùng vẫn không thể phủ nhận tư tưởng HCM được.

Bùi Tín:Vâng, và ông phải kết luận bởi v́ là...

Việt Long:Nhưng rơ ràng trong bài luận văn mà như ông vừa tŕnh bày th́ đă phê phán Marx, Lenin, phê phán Mao Trạch Đông, Stalin th́ nói rằng là tư tưởng đó đưa đến tư tưởng HCM, th́ rơ ràng là đă ngụ ư rồi nhưng không dám phủ nhận phải không ạ...

Bùi Tín: Bởi v́ người ta nhớ lại là ở đại hội đảng lần thứ 2 năm 1951 là ông HCM đă chỉ ảnh rất lớn trong hội trường ở đại hội đảng là Stalin và Mao Trạch Đông và nói rằng là: "Bác cam đoan với các chú rằng hai vị lănh đạo của chúng ta là đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông là không bao giờ phạm sai lầm. Bác đảm bảo với các chú như thế". Bác tôn trọng th́ nói thế, nhưng mà bác coi đó là tư tường của Marx, được các vị đó giải thích như thế ...

Việt Long: Thưa ông Bùi Tín, đây là điều ông kể lại, chứ trong bài văn của ông Hoàng Tùng chắc không dám nhắc đến điều đó?

Bùi Tín: Không dám nhắc đến cái đó. V́ rơ ràng là cái đó là cái không nhất quán trong luận văn của ông Hoàng Tùng. Cái dỡ nhất, cái khuyết điểm lớn nhất là sau khi phê phán tất cả những cái đó th́ lại có một câu cuối cùng, là cuối cùng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là duy nhất, đúng phải cần bảo vệ mà thôi.  Tôi nghĩ đây là một câu vuốt đuôi để mà giữ cho cái thế của người nói khỏi bị lên án, thậm chí khỏi bị trừng phạt bởi cái đă bác bỏ chủ nghĩa Marx, bác bỏ chủ nghĩa Stalin và Mao Trạch Đông. Những điều mà những người lănh đạo hiện nay vẫn coi như là bất khả xâm phạm.

Việt Long: Thật ra th́ vị thế của ông Hoàng Tùng ngày nay, cũng như là những đóng góp cho đảng CSVN từ xưa đến nay th́ khó ai có thể phê phán, trừng phạt ông ta phải không ạ?

Bùi Tín: Đúng. Nhưng điều lư thú là trong luận văn này th́ ông đă công nhận đến chính sách tả khuynh, cực đoan của đảng CSVN, nhất là cái thái độ coi thường trí thức, coi những người trí thức và cả tiểu tư sản là bọn thông thái dởm và bị gạt đi và một thời kỳ đă sùng bái bần cố nông theo tư tưởng của ông Mao Trạch Đông. Chính cái đó đă làm cho đất nước mất không biết bao nhiêu nhân tài.

Việt Long: Kể như vậy th́ ông Hoàng Tùng cũng phê phán thành thực phải không ạ?

Bùi Tín: Vâng, thành thực lắm. Ông đă nói cả về vấn đề một thời kỳ xóa cả tín ngưỡng, coi tính ngưỡng là một cái tầm bậy, một cái sai lầm, một cái phản cách mạng.

Việt Long: Chính ra những điều đó xảy ra ở  thời mà ông HCM c̣n lănh đạo đảng...

Bùi Tín: Vâng, thời kỳ đó người ta ca ngợi rằng bỏ tượng Phật xuống ao là điều rất được khuyến khích. Tất cả những câu đối chữ nho người ta đưa ra bờ ao để làm những cái cầu để người ta giẫm lên... Chính thời kỳ đó ông HCM có ư thức hẳn hoi, nhưng rất khuyến khích quần chúng làm. Coi như thà như vậy c̣n có ích hơn là treo những chữ nho như thế lên để mà ngắm nghía.

Việt Long: Hẳn là ông Hoàng Tùng phải nhận thức được những điều đó như ông vừa tŕnh bày. Nhưng có phải là trong bài luận văn của ông Hoàng Tùng, cũng như là một số bài viết về phô diễn tư tưởng của những người bất đồng chính kiến về sau này luôn luôn vẫn phải đề cao ông Hồ Chí Minh, tư tưởng HCM như là một lá bùa hộ mạng. Ngay chính một nhân vật cao cấp về tư tưởng và có uy tín trong đảng như ông Hoàng Tùng cũng vẫn phải sử dụng...

Bùi Tín: th́ vuốt đuôi để...

Viêt Long: Dạ vâng. Những điều vuốt ve nhỏ bé và ngắn gọn như vậy để mà giữ lấy an toàn cá nhân th́ chắc là giới thức giả cũng có thể thông cảm được...

Xin cám ơn ông Bùi Tín.

Tài liệu đọc thêm

·        Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mới của Ḥang Tùng

·        Lại Một Bóng Ma của Marx của Lữ Phương

 

Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mới

Hoàng Tùng

LTS. Điện thư trích đăng phần“Chủ nghĩa Mác vào cuộc” của Hoàng Tùng để độc giả có thêm tư liệu. Đây là phần thứ hai trong cuốn sách tựa đề ”Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mới”, (Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Mác), xuất bản tại Hà Nội năm 2004. Tuy nhiên v́ khuôn khổ có hạn, chúng tôi phải bỏ bớt một số đoạn, những chổ có dấu ……là phần bị bỏ. Hoàng Tùng là một cán bộ cao cấp, về cuối đời ông nh́n lại Chủ nghĩa cộng sản bằng cặp mắt khách quan hơn, tuy chưa triệt để v́ vẫn c̣n những giới hạn bộc lộ qua các bài viết. Dù vậy, với uy tín và ảnh hưởng của Hoàng Tùng, sự giác ngộ muộn màng về nhận thức của ông sẽ tạo ra chấn động về mặt tư tưởng trong đảng CSVN, nhất là đối với giới lănh đạo Hà Nội giáo điều và cổ hủ.

Phần thứ hai
Chủ nghĩa Mác vào cuộc

………….. Bài giải thích gốc [chủ nghĩa Mác] của Stalin được truyền bá là sách gối đầu giường hoặc kinh thánh của những người cộng sản. Trong 3 người đứng đầu Liên Xô tự phong là nhân vật kinh điển số 2 đứmg đầu phong trào cộng sản quốc tế, trước tác của ông cũng nhiều (không nhất thiết tát cả đều do ông viết), đều được coi là kinh diển v́ cuốn sách mang tên ông đều có in ảnh bốn người ngang nhau. Ông kư tên nhiều sách. Phần lớn là văn kiện (các báo cáo chính trị). Những trước tác chủ yếu của ông là những bài nói chuyện nói trên, những bài chống các loại gọi là chủ nghĩa cơ hội, Giản sử lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Những sách này thuộc loại mọi người phải đọc, và nói trái là chống Đảng. Người ta cũng gọi chủ nghĩa Stalin không phải là quá đáng v́ có chủ nghĩa Tôn Văn, chủ nghĩa Gandhi và nhiều chủ nghĩa khác. Stalin viết và nói, nhất là để đứng đầu một Đảng Cộng sản nhiều năm nhất, 1903-1990, và một Nhà nước có lănh thổ bằng 1/6 diện tích quả đất từ năm 1923 - 1993.

Điều cần nhận định là qua lư luận và hành động, Stalin đă tŕnh bày trước nhân loại một học thuyết tả cực đoan và hành động th́ tàn bạo, độc ác. Ông là một nhà độc tài thô bạo. Trong những bài nói, bài viết của ḿnh, Stalin đă đưa ra nhiều luận điểm quá tả như: giới thiệu Lênin chỉ nói những vấn đề thuôc về chiến lược, sách lược nhấn mạnh những cái tả. Ba cương lĩnh cách mạng được khởi thảo dưới sự chỉ đạo của ông đủ tiêu biểu cho chủ nghĩa tả khuynh về mặt lư thuyết. Băi bỏ chính sách kinh tế mới của Lênin, tập trung vào sự nghiệp công nghiệp hoá, ưu tiên xây dựng những cơ sở công nghiệp nặng, xoá bỏ toàn bộ các h́nh thức sở hưũ, kế hoạh tập trung nền kinh tế chủ nghĩa c̣n là sản xuất, xoá bỏ triệt để thương nghiệp và dịch vụ. Cuộc đấu tranh chống hiện tượng mà ông gọi là tả khuynh thật là khốc liệt, xoá bỏ tầng lớp phú nông, tập thể hoá là xoá bỏ cả tiểu nông và toàn bộ giai cấp nông dân, nông trường viên và xă viên nông trang là người lao động nông nghiệp. Chính sách tiền lương và phân phối đến toàn xă hội và viên chức của Nhà nước Xô viết cực kỳ sai lầm v́ nó triệt tiêu động lực sáng tạo của người lao động, do đó mà năng suất lao động lúc cao cũng chỉ băng 1/3 của lao động các nước tư bản. Ăn ít cũng không thể làm nhiều.

Stalin nhận định, quá tŕnh đi lên chủ nghĩa xă hội trên toàn thế giới bắt đầu là thắng lợi của cách mạng tháng 10, là quá tŕnh chuyển đổi từ sự bao vây chủ nghĩa tư bản đối với chủ nghĩa xă hội thành quá tŕnh ngược lại. Nền chuyên chính vô sản càng ngày càng phải quyết liệt hơn v́ sự phản ứng của các giai cấp bị đánh đổ đến gần sự thắng lợi của chủ nghĩa xă hội cũng giăy giụa, điên cuồng, thất vọng. Chuyên chính vô sản chẳng những phải tiêu diệt các giai cấp tư sản mà c̣n phải tiêu diệt những mầm mống của nó trong xă hội, nền sản xuất hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản (luận điểm này của Lênin được nhấn mạnh và quán triệt trong hành động). Những kết luận nêu trong giản sử lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô cũng là tiêu biểu của chủ nghĩa tả về công tác lư luận tổ chức đảng, chống khuynh hướng tiểu tư sản. Nêu cao tác dụng phê b́nh và tự phê b́nh nhưng không bao giờ phê b́nh mà phản kích ác liệt những người phê b́nh cơ quan lănh đạo. Liên hệ với quần chúng chỉ là điều nói suông (càng ngày càng xa cách trong thực tế). Sau chiến tranh, nền kinh tế của Liên Xô dược khôi phục về đại thể, sau một kế hoạch 5 năm.

………… Sau khi củng cố lực lượng vũ trang c̣n lại và xây dựng khu căn cứ ở Diên An, Mao mở chiến dịch phê phán đường lối chính trị giáo điều làm theo cương lĩnh cách mạng của Đại hội Quốc tế Cộng sản do Stalin chỉ đạo soạn thảo, phát động Đại cách mạng vô sản. Cuộc đấu tranh diễn ra cực kỳ ác liệt. Vương Minh, Lư Lập Tam, bị phê phán đích danh và cách hết mọi chức vụ.

Một Ban lănh đạo mới được chỉ định gồm Mao là Chủ tịch và các nhân vật trọng yếu sau đây: Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Trần Vân, Nhiệm Bật Thời, Khang Sinh.

Phê phán và bác bỏ đường lối và những người đề xuất thực hiện đường lới đó là một cuộc chính biến chống Stalin. Song quan hệ giữa Đảng Cộng sản do Mao đứng đầu vẫn duy tŕ một cách lỏng lẻo với Liên Xô và Quốc tế Cộng sản……………

Tư tưởng hoặc chủ nghĩa Mao ra đời từ năm 1942 khi Mao viết tác phẩm ”Luận tân dân chủ cách mạng”, chủ trương thành lập chế độ dân chủ mới, thực hành chuyên chính bốn giai cấp: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc. Ông nói: Người Đức, người Nga và người Trung Quốc ta, ông Tôn Văn có chủ nghĩa của ḿnh th́ ta cũng phải có chủ nghĩa của ta. Muốn tỏ ra khiêm tốn, ta gọi là tư tưởng (do Lưu gợi ư). Thực chất cuộc cách mạng của Mao là cách mạng của nông dân, chiến tranh nông dân. Lịch sử thường lập lại như di truyền ở Trung Quốc đă có phong trào nông dân Khăn Vàng, Hoàng Sào, Lương Sơn Bạc, Thái B́nh Thiên Quốc. Sau này, khi đă cầm quyền Mao cũng là h́nh ảnh Tần Thuỷ Hoàng, Lưu Bang (trước đó, ông cũng là Trần Thắng, Ngô Quy ?). Về quân sự, Mao là người thừa kế Tôn Vũ, Ngô Khởi).

Cách mạng Trung quốc, chủ nghĩa Mao đều là sản phẩm văn hoá của Trung Quốc.

Những sai lầm sau này của Mao cũng là sự kế thừa của quá khứ. Mao là một người Mác-xit, các bài văn của ông đều thể hiện quan điểm giai cấp, kể từ bài khảo sát phong trào nông dân tỉnh Hồ Nam, phân tích các giai cấp Trung quốc đến những bài chỉnh đốn Tam phong, Mâu thuẫn luận, Thực tiễn luận.. . Marx và Engels là người Đức, triết học do ông xây dựng cũng mang phong cách Đức v́ ..người Đức là dân tộc triết học, tư duy khái quát rất phổ thông - có khi khái quát vội. Truyền bá vào xă hội Trung Quốc và người Trung Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác cũng mang theo phong cách Hán v́ nó phải xuất phát từ lợi ích Trung Quốc và kết hợp với văn hoá Trung Quốc. Chủ nghĩa Mác mang những phong cách khác nhau, do không gian và thời gian quyết định. Nói chủ nghĩa Mác bất biến là không mac-xít, tức là không thấm nhuần chủ nghĩa duy vật biện chứng ……………

Phần thứ ba
Bài học

Sự tan ră của chủ nghĩa xă hội ở Liên xô (15 nước), Bungari, Đông Đức, Ba Lan, Rumani, Hungari, Tiệp Khắc, Anbani, Nam Tư (mới), Mông Cổ, Trung Quốc (phần của Mao) và thất bại của những cuộc phiêu lưu ở Inđônêxia (2 lần: 1938 và 1965), Nam Yêmen, Ethiopia, Bolivia, .. Els Sanvador, Nicaragoa cho nhiều bài học lớn. Sự co lại như miếng da lừa của Balzac, phong trào cộng sản ở các nước công nghiệp hoá trong đó có những thế lực một thời oanh liệt ở các nước Pháp, Italia, trong khi đó phong trào xă hội dân chủ vẫn là một thế lực lớn, một số đảng cầm quyền đă thi hành được nhiều chính sách tiến bộ điều tiết các thế lực tư bản chủ nghĩa.

Cuộc thí nghiệm đă thực hành trong mấy chục nước ở nhiều châu lục và tồn tại lâu nhất trên 70 năm, nước đi sau cũng nửa thế kỷ.

Liên Xô cũng giành được những thắng lợi có tính toàn cầu như sau Cách mạng tháng Mười là thắng lợi chống nước Đức phát xit, nước Nhật quân phiệt, và những thành tựu biến một nước công nghiệp mới ở giai đoạn đầu, căn bản vẫn là một số nước tiểu nông với mức độ khác nhau thành một nước nông nghiệp mạnh, xây dựng được một nền khoa học, một nền kỹ thuật tương đối tiến bộ, với một đội ngũ các nhà khoa học tiên phong khá đông, đi đầu trong công cuộc chinh phục vũ trụ.

Những bài học thành và không thành đều cần tổng kết nhằm giúp vào việc nhận thức lại dưới ánh sáng của hơn một thế kỷ đi vào cuộc sống, của chủ nghĩa Mác và của nền văn minh mới của nhân loại, đổi mới, bổ sung và phát triển trong thời cơ lớn, lấy lại sức sống và là động lực phát triển của lịch sử.

V́ đâu mà lại xuất hiện những nhân vật có thể tiêu diệt hàng triệu người, buộc cả một đảng, một dân tộc phải nghe theo, không dám chống lại sau một cơn nổi giận, có thể đánh đổ tất cả những ǵ đă xây dựng do bao xương máu và nước mắt của nhiều thế hệ.

Thật không ngoa: Gengis, Napoléon, Hitler không thể sánh vai với Stalin; Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ, Đường Thái Tôn không thể sánh với Mao Trạch Đông.

Thậm chí ở một nước nhỏ như Bắc Triều Tiên, một Kim Nhật Thành có thể nắm quyền sinh sát. Cuba, Bắc Triều Tiên vẫn c̣n đứng vững sống, nhân dân buộc phải sống căng thẳng kéo dài.

Phải chăng có thể có mấy bài học lớn sau đây:

Lịch sử xưa nay vẫn đi theo con đường tự nhiên của nó

Sự can thiệp của con người không thể phá bỏ quy luật, một chế độ kinh tế xă hội chỉ có thể thay đổi do sự phát triển đến hạn của kỹ thuật sản xuất và một nền văn hoá phù hợp. Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực song cũng có giới hạn, quá khứ sẽ giành lại nếu đi quá xa, tuân theo qui luật vận động khách quan không phải là sùng bái sự tự phát. Thoát ly, bất chấp qui luật vận động khách quan th́ cái giá phải trả rất cao, dẫn đến những thảm hoạ lịch sử. Cũng có những cơ hội tạo ra được những bước ngoặt đi lên, con người phải sẵn sàng tranh thủ nhưng chỉ đi xa khỏi giới hạn.

Ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, chưa có cuộc cách mạng vô sản nào bùng nổ. Ở đây, người ta vẫn đi theo con đường tiến hoá cải lương. Các đảng cộng sản kị đảng nào tập hợp được lực lượng bằng con dường bạo lực đánh đổ chế độ tư bản.

Các cuộc cách mạng nổ ra và thắng lợi trong thế kỷ thứ 20 đều ở các nước nông nghiệp tàn dư phong kiến c̣n nặng, tiêu biểu là Nga và Trung Quốc, Mông Cổ th́ c̣n lạc hậu hơn, kinh tế du mục. Một số nước là thuộc địa. Thực chất các cuộc cách mạng ấy là dưới ngọn cờ giải phóng xă hội. Những người cách mạng tổ chức ra lực lượng chiến đấu, nắm được thời cơ, đánh đổ bộ máy cầm quyền bị nhân dân oán ghét vào lúc nó suy yếu do chiến tranh, thiết lập chính quyền cách mạng.

Bản chất các cuộc cách mạng ấy là cách mạng nhân dân, cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa như Việt Nam.

Tất cả các nước xă hội chủ nghĩa đều đă theo con đường của Liên Xô và đều phá sản. Trung Quốc buộc phải chuyển hướng sau Cách mạng Văn hoá, thực chất là nội chiến, tranh chấp quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản.

Việt Nam lúc đầu cũng đi theo con đường của Liên Xô và Trung Quốc, sau hai cuộc chiến tranh, đất nước, kinh tế bị tàn phá, buộc phải quay trở lại con đường do Nhà nước cách mạng xác định từ khi mới ra đời, phát triển công thương nghiệp dân tộc, mở rộng kinh tế thị trường, các h́nh thức kinh tế và giao lưu quốc tế.

Sau này, tất cả các nước xă hội chủ nghĩa tan ră đều đi vào kinh tế thị trường.

Bài học rơ ràng đă thông qua thất bại phải trở lại từ đầu trong hoàn cảnh mới, nhiều điều phải đi vào thời đại mới.

1/ Lúc đầu đúng về phương pháp tiếp cận khoa học, sau đó lại hướng nhảy quá cao thành nguy hiểm dẫn đến tai hoạ.

Đảng công nhân xă hội lúc đầu đưa ra cương lĩnh cách mạng tư sản dân chủ, tức là cách mạng tư sản công, nông có thể gọi là nhân dân, không phải của tư sản trong thế kỷ 19, triệt để hơn cuộc cách mạng dân chủ của đẳng cấp thứ ba ở Tiệp lúc bấy giờ, hai giai cấp tư sản và vô sản chưa h́nh thành mới chỉ có mầm mống, sau đó Napoléon đă đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp, kinh tế, chính trị (thể chế tư sản), văn hoá.

Nước Nga phong kiến chuyên chế, từ Pierre thứ nhât bắt đầu công nghiệp hoá, đến đầu thế kỷ 18 mới vào giai đoạn đẩu của chủ nghĩa tư bản, song về cơ bản vẫn là chế độ phong kiến lănh chúa điều hành.

Khi đi vào một cuộc cách mạng, điều quyết định thành bại là phải xác định nó bắt đầu và sẽ đi đến đâu trước mắt, từ đó, quyết dịnh chủ thể cách mạng là những lực lượng xă hội nào. Không có cuộc cách mạng nào lại xuât phát từ chỗ chân không và tiến tới một khoảng không mênh mông. Cách mạng là cải tạo t́nh trạng không phù hợp, không có các động lực của phát triển, quần chúng bất b́nh. Sự phát triển bao giờ cũng là sự tiếp nối, giành lại những cái hiếm có hợp lư, thay những cái không hợp lư thành cái hợp lư.

Sự tiếp cận ban đầu của Lênin là tương đối với Nga, không đúng với các nước công nghiệp Tây Âu, cách tiếp cận của Bertain, Causky là đúng với các nước đó, các con đường có thể song song. Chủ trương chuyển lên chủ nghĩa vô sản, đi ngay vào chủ nghĩa cộng sản tháng 4 năm 1919 và giải pháp t́nh thế dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Mười song lại là nguyên nhân trực tiếp đổi mới và sự can thiệp vũ trang của chủ nghĩa tư bản quốc tế. Sự trở lại con đường ban đầu, thay đổi căn bản nhận thức về con đường tiến lên chủ nghĩa xă hội ở nước Nga, thực hiện chính sách kinh tế mới, vừa là giải pháp t́nh thế, vừa là con đường đúng.

Băi bỏ con đường ấy, trở lại chủ nghĩa cộng sản là bước vào con đường nguy hiểm dẫn đến tŕ trệ và phá sản sau này. Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Mười của công cuộc công nghiệp hoá, của cuộc chiến tranh chống phat xít là thắng lợi của tinh thần yêu nước, như đă đánh thắng Napoléon, của tư tưởng nhiệt t́nh cách mạng. Nguyên nhân dẫn đến thất bại là sự hy sinh cuộc sống, lợi ích vật chất và tinh thần của con người, của đời sống gia đ́nh và cá nhân, tất cả đều nhân danh tập thể, bất chấp lợi ích từng người.

Trong khi phải đương đầu với chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới, đề xuât chính sách liên minh dân chủ, chủ nghĩa dân chủ mới cũng là giải pháp t́nh thế, đồng thời trở lại con đường đúng đắn ban đầu tạo ra động lực mới.

Sau thắng lợi chống chủ nghĩa phát xít, lại băi bỏ một cách tàn bạo ở tất cả các nước châu Âu và châu Á. Sự tiến tới chủ nghĩa xă hội kiểu Liên Xô hoặc Trung Quốc mà nhiều nước mới thoát khỏi chủ nghiă thực dân nhanh chóng thất bại v́ cũng là những mạo hiểm quá sức (saut périlleux).

Tất cả các nước xă hội chủ nghĩa cũ, sau năm 1990 đều trở lại kinh tế thị trường đi vào quá tŕnh toàn cầu hoá trong nền văn minh mới, nghĩa là phải làm lại từ đầu trong thời đại mới. Một thế kỷ cách mạng oanh liệt, thắng lợi vẻ vang và thất bại nặng nề. Cái giá phải trả to lớn không thể nói hết. Điều có ích lớn là nhận thức đúng những bài học và xác định đúng con đường phát triển trong kỷ nguyên trí thưc, khoa học, trí tuệ là nhân tố thắng lợi cơ bản.

Nếu nói quyền lực là vấn đề then chốt của cách mạng th́ bản chất quyền lực như thế nào là vấn đề quan trọng đầu tiên.

Một xă hội tương lai như bản phác thảo của Marx và Engels tŕnh bầy ít tranh căi trong phong trào cộng sản, những vấn đề tranh luận gay gắt kéo dài là con đường chủ thể cách mạng và quyền lực thay thế quyền lực cũ.

Đối với những người đối lập với chủ nghĩa Marx th́ học thuyêt cơ bản bị coi là một ảo tưởng, một thảm hoạ nhân loại, chủ nghĩa tư bản là xă hội hợp lư sẽ tồn tại lâu dài và khắc phục khuyết tật của nó.

Marx, Engels chủ trương chủ thể cách mạng chỉ là giai cấp vô sản song trong thực tế, giai cấp ấy không tồn tại ở mọi không gian, thời gian. Lênin nhận định chủ thể cách mạng ở nước Nga là giai cấp công nhân và nông dân, vai tṛ chủ đạo là công nhân, nông dân cũng xem xét theo tiêu chuẩn công nhân. Mao nhận định từ đầu là nông dân, có lúc nói là của bốn giai cấp, cuối cùng trở lại nông dân, coi giai cấp công nhân đă tư sản hoá, quư tộc hoá ở Liên Xô và các nước châu Âu. Mao nói: Tôi sẽ tranh luận với Karl, vấn đề tôi đúng hay ông đó đúng. tôi nói :”Nông dân cách mạng nhất”. Mác nói “Công nhân”. Hăy trông vào thực tế cách mạng.

Hồ Chí Minh nói: “Cách mạng là của nhiều lực lượng xă hội”, năm 1922 ông thêm vào khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kêt lại” ! bằng khẩu hiệu: “Tất cả các lực lượng bị áp bức, bóc lột đoàn kết lại”. Marx nói giai cấp vô sản đánh đổ giai cấp vô sản các nước tư bản, làm cách mạng giải phóng ḿnh đồng thời giải phóng toàn nhân loại. Bác Hồ nói: ”Các dân tộc phải tự ḿnh làm cách mạng, không trông chờ giai cấp vô sản các nước chính quốc”. Ở các nước thuộc địa, chủ thể cách mạng là toàn dân. Ở đây, sự phân hoá xă hội khác với các nước công nghiệp. Chế đô phong kiến cũng vậy, không có chế độ lănh chúa.

Quyền lực cách mạng, chế độ mới thuộc về ai cũng là vấn đề tranh luận về đấu tranh, vô cùng phức tạp. Marx và Engels chủ trương chuyên chính vô sản, bá quyền vô sản, Lênin nhất trí và đi xa hơn khi ông viết tác phẩm Nhà nước và Cách mạng (sau tháng Mười, dự định viết lại song không được). Mao đưa ra thuyết Đảng Cộng sản, chính quyền Nhà nước đều ra đời từ họng súng của đội quân nông dân, ông đă nă pháo vào bộ tư lệnh của Đảng Cộng sản Trung quốc mà ông cho là đă đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vấn đề này trở thành những cuộc tranh chấp quyền lực đẫm máu ở Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác, sau khi Đảng cộng sản nắm chính quyền. Về lư thuyêt thật th́ đề cao chính quyền của giai cấp, Đảng của giai cấp; trên thực tế biến thành Đảng của giai cấp, Đảng trở thành siêu quyên lực, trên thực tế trở thành quyền lực của một nhóm nhỏ, của một nhân vật đứng đầu, một chế độ cực quyền cá nhân, tạo thành trở lực cực kỳ lớn, triệt tiêu động lực cũng cực kỳ lớn của sự phát triển.

Ở Liên Xô, cuộc đấu tranh quyền lực diễn ra ngay lập tức sau khi Stalin qua đời. Stalin chết, cuộc đấu tranh quyền lực lại tiếp tục. Khroutchev loại trừ thế lực của Stalin muốn thay đổi cả đường lối cũ, song không kịp thực hiện đă bị đánh đổ. Cuộc tranh chấp quyền ưực tiếp tục sau khi bộ ba: Brejenev, Souslov, Koxưghin qua đời giữa Gorbachev và Yelsin

Ở Trung quốc, cuộc tranh chấp quyền lực diễn ra liên miên từ những năm 1920 giữa nhóm 28 người bolchevich được đào tạo theo con đường Stalin với Trần Độc Tú, giữa Mao và nhóm người ấy, giữa Mao và Lưu, Đặng (lũ bốn tên thuộc về Mao, giữa Mao và Lâm Bưu và sau này giữa các thế lực diễn ra kín đáo hơn).

Nói tóm lại, th́ gần như trong tất cả các Đảng cầm quyền đều thực hiện quyền lực cá nhân (nói thành thật là Hồ Chí Minh từ đầu đă phản đối và kiên tŕ chống tranh chấp quyền lực và tự ḿnh nêu gương, bao giờ cũng dựa vào tập thể và nhường quyền điều hành cho nhân vật lănh đạo thứ hai).

Tệ chuyên quyền cá nhân, h́nh thành đẳng cấp đặc quyền đặc lợi, đă bị phê phán nhưng không đánh đổ được, chỉ có hiện tượng đánh đổ lẫn nhau. Tệ chuyên quyền cá nhân, cực quyền hơn cả các vua chúa ngày xưa, kiềm chế quần chúng về mọi mặt. Tần Thuỷ Hoàng đốt sách nho, chôn sống nhà nho. Chế độ cực quyền cá nhân kiểm soát toàn xă hội cả đời sống kinh tế, văn hoá, cuộc sống gia đ́nh, cho ǵ ăn nấy, chỉ có quyền vâng lời, không được phép nói trái với người lănh đạo.

Chế độ cực quyền c̣n có cái hoạ là nhân cách, phong cách của nhân vật nắm trọn quyền lực, anh ta có thể phá sạch thành tŕ, tiêu diệt hàng triệu sinh mạng, ban phúc, gieo tai hoạ, tâm lư thất thường.

Là quyền lực của nhân dân là tất yếu và nhiều nhân vật lănh đạo nói quá nhiều. Mọi quyền lực đều của nhân dân, dân chủ mà dân chủ gấp triệu lần nền dân chủ tư sản, dân chủ nhất. Nhận định như vây là đúng với quy luật phát triẻn v́ nền dân chủ này là nền dân chủ ban đầu của cách mạng dân chủ tư sản phát triển thành nền dân chủ chung, chứ không phải về thực chất là của giai cấp tư sản, trang trí bằng các vỏ dân chủ hào nhoáng đánh lừa được nhiều người, các thứ tự do đều có những quyền lực và két bạc của giai cấp tư sản không hề lay chuyển, mất mát.

Quyền lực thực sự là của dân, do dân và dân được thể hiện đầy đủ trong thực tiễn th́ sức mạnh của nền dân chủ là vô địch, cả lực lượng vật chât lẫn tinh thần. Nhờ thực tiễn chưa thật đầy đủ nhưng các cuộc kháng chiến của ta chống các thế lực xâm lược to lón là sức mạnh của toàn dân. Nó là vô địch. H́nh thức quyền lực mỗi nước một khác, ở đây là Xô Viết, nói khác là cộng hoà dân chủ, không nên rập khuôn.

2/ Các nước đi vào chủ nghĩa xă hội năm 1917, những năm 1950, đều là những nước lạc hậu về kinh tế và văn hoá, nền sản xuât chủ yếu vẫn là tiểu nông, xă hội tiểu nông, số người mù chữ khá đông. Trừ nước Nga, các nước khác chưa có nền móng của một nền khoa học, kỹ thuật tiên tiến. V́ vậy, các nước đó phải tham khảo con đường của Lênin, chính sách kinh tế mới, từng bước tổ chức lại nền sản xuất, nền cơ sở mới, nền kỹ thuật tiên tiến, tổ chức lại sản xuất, kinh doanh có hiệu quả nhằm xây dựng một nền sản xuất lớn hàng hoá, xoá bỏ trạng thái thủ công, công thương, tự cấp, tự túc giống như chủ nghĩa tư bản đă làm nửa sau thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chuẩn bị cho cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ hai……………

Trong khi nền kinh tế thiếu hut, tiếp tục cái đà xuống dốc, tinh thần phấn khởi xă hội tắt ngấm, người ta lại lao vào những công tŕnh xây dựng lớn, dưới khẩu hiểu, hăy cố gắng lên, sắp đến chủ nghĩa cộng sản rồi đó, chẳng khác ǵ các giáo sĩ Kitô kêu gọi các con chiên, cố gắng lên các con, sắp đến thiên đường rồi đó.

3/ Thiên đường ngày càng xa

………..Những nhà sáng lập chủ nghiă Mác có cái lầm là đặt sức mạnh đội ngũ trí tuệ dưới đội ngũ sức mạnh cơ bắp. Các ông phê phán những người trí thức gắn liền với giai cấp thống trị, bảo vệ và phục vụ lợi ích của nó, nhiều nhà thông thái rởm………

Các nhà nước xă hội chủ nghĩa đều ra đời ở các nước nông nghiệp, văn hoá lạc hậu, lại chịu sự chi phối của những học thuyết cổ đại bảo thủ, hướng cổ, rất kị với những cái mới, nhất là về kinh tế, coi thương nghiệp là cái ǵ bẩn thỉu, hèn hạ cần phải ức chế. Ở châu Âu nó là một động lực lớn, chính nó chuẩn bị và góp phần phát triển nhanh nền kinh tế, nền văn hoá của các nước tư bản chủ nghĩa.

Ở các nước xă hội chủ nghĩa, trong lớp những nhà trí thức thường xuyên xuất hiện nhiều khuynh hướng đối lập. Lớp người này vừa được sự ưu ái, vừa bị săn đuổi, kể cả lớp trí thức do xă hội đào tạo không dính dáng ǵ với các giai cấp bóc lột cũ. Tập hợp được lớp trí thức, tức là tập hợp tinh hoa của xă hội, là một tiêu chuẩn đánh giá một nền chính trị mạnh hay yếu, sức hấp dẫn nhiều hay ít. Những người trí thức biết nhiều, thích nói, phản kháng sự áp đặt lẽ phải. Họ không dễ dàng làm việc với những người không bằng họ về trí thức. Người cầm quyền thích ra luật, họ thích tranh luận, không bằng ḷng với vị trí xă hội của ḿnh là bạn đường, đứng sau cùng trong trật tự xă hội v́ không rơ chiến lược giáo dục, chiến lược khoa học đi liền với chiến lược phát triển đất nước, đào tạo ra một đội ngũ đông đảo những người trí thức nhưng không được sử dụng, sử dụng sai hoặc vất bỏ. Nhiều nhà trí thức của các nước xă hội chủ nghĩa chạy sang các nước tư bản chủ nghĩa. Trái lại, hiếm có những nhà trí tuệ có tài ở các nước tư bản chủ nghĩa chạy sang các nước xă hội chủ nghĩa. Những nhà khoa học lớn nhât, những phát kiến lớn nhất trong thế kỷ tứ 20 là của các nước tư bản chủ nghĩa.

Những người mac-xít một mực bác bỏ những phát hiện xă hội, văn hoá, nghệ thuật của những người ở các nước tư bản chủ nghĩa như thuyết kỹ trị, làn sóng thứ ba, cách mạng tin học, thuyết Taylor, thuyết Keynes đều cho là sản phẩm tư sản.

Khi tiếp xúc với các nhà trí thức thuộc phía bên kia, những người bên này thường tỏ thái độ trịch thượng, thầy đời, lời dài, ư hẹp.

Rơ ràng đội ngũ các nước tư bản chủ nghĩa năng động, hoạt bát, làm nên đ́nh đám……

4/ Quan hệ quốc tế.

Marx và Engels kêu gọi giai cấp vô sản các nước đoàn kêt lại, tiến hành cuộc cách mạng thế giới, đánh đổ chủ nghĩa tư bản Quốc té, đi đén thế giới đại đồng.. Nếu là một viễn cảnh xa xôi th́ cũng là một niềm hy vọng, một ước mơ của loài người. Đặt thành nhiệm vụ bàn tiếp th́ ta không thực tế mà dẫn đến sai lầm về chính trị và tổ chức. Sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau là cần thiêt. Cách mạng nhiều thay đổi h́nh thái kinh tế, xă hội là một quá tŕnh lịch sử nổ ra và thắng lợi ở từng nước, không thể bùng nổ đồng loạt trên cả hành tinh dược, sự chỉ đạo của một bộ chỉ huy toàn cầu theo một chiến lược thống nhất.

Việc lập ra ba tổ chức Quốc tế: Quốc tế I, II, III có giúp đỡ một phần đáng kể cho sự phát triển phong trào cộng sản, song nó là một cuộc tuyên chiến với chủ nghĩa tư bản các nước, kích động đàn áp của chúng và dẫn đến sai lầm là người hô hào thành lập tổ chức này, tự nhận là lănh đạo thành đạt, là nhân vật trung tâm, dẫn đến tranh chấp sau đó. Rốt cuộc các quốc tế lần lượt ra đời, lần lượt tự giải thể…….

5/ Cách mạng là một sự nghiệp cao cả giải phóng xă hội và con người, cải tạo xă hội bât công thành xă hội công bằng. Bản chât nhân văn của cách mạng, quyêt định phương pháp, h́nh thức cách mạng, thái độ ứng xử giữa con người, thay đổi ứng xử bất nhân bằng lối ứng xử nhân đạo. Đạo Nho coi trọng chữ nhân, chữ thiện, các tông giáo cũng khuyên thiện chống ác.Bản chất con người là thiện. Có người nói: “Nếu coi con người là người th́ phải đối xử với nó có tính người”. Nhưng cuộc cách mạng đă quá lạm dụng bạo lực, gây ra những vụ đàn áp rât trầm trọng như ở Liên Xô, Trung quốc, thậm chí trong Đảng giết lẫn nhau để tranh quyền. Những nhà cách mạng chân chính lên án những hiện tượng tàn bạo đó, nghiêm khắc phê phán những người chủ trương mục đích là tất cả, phương tiện không đáng kể. Phải nói lại rằng mục đích là nhân đạo, th́ phương tiện sử dụng cũng phải nhân đạo.

Lỗi lầm lạm dụng bạo lực khiến cho nhiều người xa lánh, ghê sợ cách mạng.

6/ Sự lănh đạo của Đảng cộng sản quyết định thành bại của cách mạng thể hiện rất sinh động ở các nước trong thế kỷ vừa qua, thắng lợi và thât bại đều có tầm cỡ lịch sử như mọi người chứng kiến, lịch sử ghi măi những sự kiện ấy.

Những thắng lợi lớn là cách mạng tháng 10 Nga, cách mạng Trung Quốc, Việt Nam và các nước khác, thắng lợi trong cuộc chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa phát xít châu Âu và chủ nghĩa quan phiệt châu Á, cả của Nhật Bản và Trung Quốc. Thắng lợi của các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc đia, xoá bỏ hoàn toàn chủ nghiă thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới nhờ có chỗ dựa là các nước xă hội chủ nghĩa và ảnh hưởng tư tưởng giải phóng của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mao và nhiều thắng lợi khác.

Sự tan ră của chủ nghĩa xă hội ở Liên Xô và một loạt nước khác cũng do sự lănh đạo của Đảng Cộng sản, nghĩa là cái đúng, cái sai đều có cả.

Nguyên nhân đúng sai từ đâu ra ? Đây là một bài học lớn nhât đối với tất cả những người cách mạng.

Thắng lợi và thất bại đều bắt nguồn từ học thuyết cách mạng ban đầu, sau đó là sự lănh đạo của các đảng và những nhân vật lănh đạo của các đảng ấy.

Từ khi nắm quyền lănh đạo đất nước, các đảng trở thành chuyên quyền, người lănh đạo tuyệt đối. Về danh nghĩa th́ nói rằng đảng của giai cấp công nhân, của toàn Đảng, trong thực tế th́ người đứng đầu nắm mọi quyền lực, thông qua hệ thống tổ chức thực hành mọi quyêt định. Người đứng đầu thường nhân danh nguyên tắc tập trung, gắn thêm một cách lỏng lẻo để chuyên quyền và giải thích là nguyên tắc cao nhất trong sinh hoạt cuả Đảng.

Khái niệm naỳ xuất hiện từ đâu, và nó được đưa vào hoạt động như thế nào? Năm 1847 khi được những người lănh đạo Liên minh những người công chính (Ligne des juste) yêu cầu cải tổ lại tổ chức này thành một chính đảng có cương lĩnh điều lệ. Đáp lại lời mời đó Marx và Engels nêu những điều kiện và thủ tục kết nạp các thành viên có tính tông giáo, hai là, chính đảng mới phải là đoàn thể dân chủ, khi chuẩn bị ra các qui định th́ phải thảo luận dân chủ, mọi người đều b́nh đẳng khi bỏ phiếu. Cơ quan cao nhất của toàn đảng và các cấp là đại hội. Đại hội bầu ra cơ quan chấp hành; từ đại hội này đến đại hội sau cơ quan cao nhât là Ban chấp hành, Ban này phải chịu trách nhiệm trước đại hội.

Lúc này chưa nói đến nguyên tắc tập trung. Nguyên tắc này do Lênin nêu ra. Cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt khi chuẩn bị điều lệ của Đảng Công nhân xă hội dân chủ Nga. V́ vây, đảng chia thành hai phái, đồng thời tồn tại đến Cách mạng tháng 10. Những người không tán thành chủ trương của Lênin là những nhân vật hàng đầu của phong trào mac-xít lúc ấy ở Nga như Phekhanov, Marta, Bogdanov, Asebra (?). Các đảng xă hội dân chủ Tây Âu cũng phản đối nguyên tắc này. Cuộc tranh luận kéo dài suốt thế kỷ 20 và tiếp tục đến tận bây giờ

Chúng ta xem, nh́n lại việc đưa nguyên tắc ấy vào cuộc sống bắt đầu từ Stalin. Ông này đă nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ để thực hiện chế dộ cực quyền cá nhân và chế dộ này đă để lại những hâụ quả tai hại mà mọi người đă biết. Và phong trào cộng sản quốc tế đă xuất hiện những nhân vật khét tiếng tàn bạo: Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật thành, Cheochetxcu.

Thể thức đưa ra các quyêt định rất tuỳ tiện. Những quyết định trên danh nghĩa đều được thông qua thảo luận của các cơ quan lănh đạo. Song tiếng nói cuối cùng vẫn là của nhân vật đứng đầu, người chuẩn bị các quyêt định đó thông qua một nhóm nhỏ những người biên tập, không phải là những chuyên gia giỏi. Nhiều quyết định có quan hệ đến vận mệnh, tiền đồ đất nước được đề xuất và tất nhiên được chấp nhận theo tuỳ hứng, như băi bỏ chính sách kinh tế mới, chuyển sang thực hiện năm năm với hai nhiệm vụ trung tâm công nghiệp hoá và tập thế hoá nông nghiêp, sau khi thực hiện những nhiệm vụ của kế hoạch thứ nhất, tiếp theo kế hoạch thứ hai, rồi năm 1936, tuyên bố xây dựng xong chủ nghĩa xă hội ở Liên Xô.

Từ giận dữ, Stalin mở chiến dịch chống hữu khuynh, tả khuynh, thanh trừng nội bộ. Những nhân vật nói trên không bao giờ chấp nhận ư kiến người khác, chỉ thích nghe những lời tâng bốc ngọt nào, có quyền phê b́nh người khác, ai dám can Stalin?

Cũng từ giận dữ, Mao phát động chiến dịch đánh đổ Lưu, Đặng, xoá bỏ đường lối do Đại hội lần thứ VIII thông qua, đưa ra đường lối Ba ngọn cờ hồng, phát động Đại cách mạng văn hoá, loại bỏ tất cả, ai dám can Mao?

Không khí sinh hoạt trong đảng lănh đạo mà trong xă hội các nước xă hội chủ nghĩa thật là buồn tẻ, mặc dù hội họp, lễ hội hầu như diễn ra quanh năm, các cuộc vận động không ngừng được mở rộng. Buồn tẻ v́ người ta không có quyền nói về cuộc sống vất vả, thiếu thốn. Mọi việc đều được sắp xếp từ bên trên, ăn ǵ, mặc ǵ, con người không có quyền chủ động như Nguyễn Tuân nói: Bắt cởi trần phải cởi trần! Cho may ô mới được phần may ô, mà xă hội chủ nghĩa (XHCN) là Xếp Hàng Cả Ngày.

Nói rằng, trong xă hội thường xuyên có sự nhất trí về chính trị và tư tưởng là không đúng sự thật, sự im lặng kéo dài, cuối cùng bỏ mặc cho chủ nghĩa xă hội tan ră, người ta bỏ phiếu bằng đôi chân lũ lượt chạy sang các nước tư bản để làm những việc thấp kém, có khi mât cả phẩm gia con người để kiếm sống.

Một tiềm năng cực kỳ to lớn của đất nước bị lăng phí sức lao động và trí tuệ của con người. Nếu là một đảng dân chủ, người được mở miệng ra th́ nhiều sai lầm có thể tranh, nhiều thử thách có thể vượt qua.

Tư duy của những người lănh đạo đă nắm được quyền lực, cố bám giữ bằng mọi cách, thi hành chính sách ngu dân, giữ nếp cũ, quay mặt đi trước những ư kiến xây dựng chân thành, đàn áp không thương tiếc những ai dám có ư kiến phê b́nh.

Nhiều nhà cách mạng biết khi đấu tranh gian khổ chống chế độ bât công th́ anh dũng, anh hùng, gắn bó với nhân dân. Sau khi đă trở thành người lănh đạo Nhà nước, tâm lư họ thay đổi rất nhanh, chuyển sang chăm lo giữ lấy quyền lực, tranh chấp với ai có thể thách thức họ. Tinh thần cách mạng sa sút như quả bóng x́ hơi. Họ trở nên bảo thủ, cự tuyệt thay đổi v́ sợ tạo thành rối loạn. Người muốn là nhà cách mạng tiên phong phải có lư luận tiên phong, những người nắm quyền lực, tư duy bảo thủ th́ không muốn khám phá cái mới, cho nên họ muốn yên ổn, song đời sống lại không ngừng biến đổi, do đó mâu thuẫn phát sinh, phát triển làm cho mất sức. Họ đă không muốn t́m ṭi, lại sợ người khác t́m ṭi để đi xa hơn ḿnh, v́ vậy phải ngăn cản, giữ độc quyền chân lư mà họ đă nói, đă viết. Có người lănh đạo bằng diễn văn, bài báo, tuyển tập……..

….. Lần thứ nhất nhân danh Quốc tế cộng sản, Stalin phê phán con đường của Nguyễn Ai Quốc là dân tộc chủ nghĩa cải lương, hữu khuynh, buộc phải chấp nhận cương lĩnh cách mạng công, nông, đổng thời đánh đổ đế quốc, phong kiến, thực hành con đường đó, lực lượng của ta bị thu hẹp giữa lúc tinh thần yêu nước đang lên cao kể từ năm 1929, đặc biệt trong giới trí thức, thanh niên và một bộ phận tư sản, địa chủ. Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dân tộc chưa thật sự h́nh thành.

Do tả khuynh, khi bị kẻ thù đàn áp, không tự sức chống đỡ, tổn thất nặng nề.

Từ năm 1936 trở đi, ta giành lại quyền chủ động. Năm 1941, ta phát triển đường cách mạng trong t́nh h́nh mới, thành con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giương cao ngọn cờ yêu nước, tập hợp mọi lực lượng yêu nước và dân chủ, chuẩn bị lực lượng, khi thời cơ đến, tổng khởi nghĩa, đánh đổ chính quyền thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nước Cộng hoà Dân chủ của nhân dân, chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp phát động cuộc chién tranh xâm lược lần thứ hai. Ta thực hiện được một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện.

Năm 1950 Liên Xô và Trung Quốc buộc ta trở lại cương lĩnh cách mạng công nông, thực hành cách mạng ruộng đất bằng bạo lưc, chọn lọc tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy quân đội và bộ máy Nhà nước. Bao vây kinh tế, chuẩn bị xoá bỏ các h́nh thức kinh tế tư nhân bằng chính thuế (?).

Chiến dịch thanh trừng nội bộ, cải cách ruộng đất gây nên những tổn thất to lớn về lực lượng, chính trị và kinh tế. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, trên một triệu người ở miền Bắc chạy vào Nam. (Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, hai triệu người bỏ nước chay đi nước ngoài do chủ nghĩa tả khuynh của ta).

Sau lần tả khuynh dẫn đến cuộc khùng hoảng kinh tê-xă hội 1975-1985, buộc ta phải đổi mới con đường phát triền của nước ta. Công cuộc đổi mới của ta bắt đầu từ năm 1986, về thực chất là do đi trệch đường mà phải trở lại con đường cũ đă đựơc nêu ra 1929, 1941, 1945, khuyến khích phát triển công thương nghiệp dân tộc, mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài, mở rộng kinh tế thị trường, thực hiện quyền tự chủ trong sản xuât kinh doanh của các chủ thể kinh tế, Nhà nước chỉ quản lư về mặt hành chính, chỉ đạo vĩ mô, đưa ra chiến lược phát triển đất nước.

Như vậy là ta đă hai lần mất quyền chủ động về đường lối và hai lần giành lại được. Công cuộc cách mạng trước đây, cũng như hiện nay, ta nắm vứng quyền chủ động th́ cách mạng thắng to.

Những bài học quư báu nói trên nhắc nhở chúng ta, rằng phải biết tham khảo kinh nghiêm nước ngoài, nhưng phải nắm chắc tinh thần độc lập, tự chủ, chớ làm theo nước khác một cách máy móc. Chân lư bao giờ cũng cụ thể, cách mạng là sáng tạo.

Ta đă hội nhập đời sống quốc tế về nhiều lĩnh vực, tư duy đă đổi mới song vẫn c̣n nhiều hiện tượng ngập ngừng, vẫn c̣n vương vất không ít mầu sắc tư duy đă lỗi htời. Đi vào thời đại mới, muốn đuổi kịp người ta, phải có tư duy mới, tư tưởng mới, phong cách mới.

Toàn cầu hoá là một bước ngoặt rất lớn trong đời sống nhân dân. Không có bất cứ thế lực nào kéo lùi được bánh xe lịch sử, mặc dù mặt tiêu cực của nó ghê gớm như cuộc chạy đua giữa các cường quốc tranh nhau chỗ đứng dưới mặt trời, nước giàu muốn nuốt nước nghèo trong quan hệ kinh tế. Hội nhập có lợi lớn đối với phát triển v́ nó mở rộng thị trường cho cả giàu lẫn nghèo, phân công lại lao động toàn cầu, chuyển giao công nghê, giao lưu văn hoá, kinh nghiệm kinh doanh trong thời đại thông tin.

2- Lựa chọn con đường càng ngắn càng tốt là điều kiện để nhanh chóng vượt lên phía trước, khắc phục càng nhanh càng tốt khoảng cách khá xa với các nước tiên tiến. Bao giờ trí tuệ cũng là nhân tố tiến bộ hàng đầu. Đẽo đá là bước tiến đầu tiên của con người cũng là sản phẩm của trí tuệ. Trong thhời đại điện tử, nền văn minh trí tuệ, muốn tiến nhanh phải có trí tuệ tương ứng. Đối với dân tộc ta, vận mệnh, tiền đồ đều do trí tuệ quyết định. V́ vây, tiền đề của phát triển là tạo ra một xă hội trí tuệ, một đội ngũ trí tuệ đông đảo. Các nước đi trước nước ta trong ba thế kỷ vừa qua hơn ta về trí tuệ. Trí tuệ đưa đến cuộc phục hưng, thế kỷ ánh sáng. Hai cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuất nhiều nước châu Â, châu Phi dẫm chân tại chỗ v́ tŕnh độ văn hoá, giáo dục thấp kém.

Nền giáo dục và đào tạo nhân tài của ta phải h́nh thành đồng bộ đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, kỹ thuật, quản lư, kinh doanh, hành chính và dội ngũ những người lao động giỏi, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của chiến lược phát triển kinh tế.

Nền kinh tế của ta phải là nền kinh tế đa dạng của nhiều h́nh thức sở hữu, nhiều h́nh thức kinh tế, không cố định lâu dài xuất phát từ hiệu quả kinh tế. Cạnh tranh và hợp tác b́nh đẳng.

Nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hoá - thị trường. Nó phải phục tùng những quy luật vận động chung của nền kinh tế ấy khi đă hội nhập nền kinh tế toàn cầu và hoạt động kinh tế của nước ngoài trên đât nước, của nước ta trên đất nước ngoài. Sự khác nhau là tất cả các hoạt động của kinh tế trên đất nước ta đều phải tuân theo pháp luật và làm nghĩa vụ. Mọi hoạt động kinh tế đều phải đóng thuế, nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.

3- Nền kinh tế của ta phải là nền kinh tế có hiệu quả cao, bằng cách tập trung sức lực h́nh thành những ngành kinh tế mà ta có thế mạnh về nguyên liệu, khí hậu, nhân lực. Tất cả đều dựâ trên những công nghệ mới nhất. Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghệ trên thế giới đang bùng nổ, không nên xây dựng những cơ sở quá lớn, xây dựng lâu, khi đi vào khai thác th́ kỹ thuật đă lạc hậu.

Nhiều ngành ta tự xây dựng bằng tiền vốn của ḿnh và cũng nhiều ngành vẫn kêu gọi nguồn vốn nước ngoài khai thác như khoáng sản, năng lượng. Hiện tượng chạy đua xây dựng nền công nghệ điện tử, tin học làm cho nền kinh tế mới nhanh chóng bị băo hoà. Song không v́ vậy mà ta không đi vào xây dựng có chọn lọc nền kỹ thuật này.

Công nghệ sinh học, hoa học, năng lượng là những ngành mà ta có ưu thế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nhiệt đới, dược liệu thảo mộc, hương liệu của ta khá dồi dào. Nhiều sản phẩm không cần đầu tư lớn và nhiều nhân công nhưng thu lợi nhanh, nhiều, cần được khắc phục.

Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững là phát triển sản xuất, phải đi liền với phát triển xă hội. Sản xuất là sự nghiệp của con người v́ con người đáp ứng tốt nhu cầu trước mắt, đồng thời với lâu dài. Hy sinh cái trước mắt mà cái lâu dài cũng không đạt được v́ muốn sản xuất có hiệu quả, người lao động phải tái sản xuât sức lao động cho hôm nay và cả ngày mai…

4- Cùng với việc xây dựng nền kinh tế với ba khu vực trên nền tảng một nền công nghệ hiện đại, càng phải xác định chiến lược v́ con người, đáp ứng từng bước tốt hơn các nhu cầu ăn uống, nhà ở, mặc, đi lại, chăm sóc sức khoẻ, tức là mâm cơm, cái nhà hay căn hộ, quần áo, trường học và thầy giáo, bệnh viện và thày thuốc. Sự tan ră của các nước xă hội có một nguyên nhân quan trọng này. Giấy khai, danh hiệu, động lực tinh thần cũng cần song không thể biến thành robot.

5- Văn hoá là động lực của sự phát triển, là sức sản xuất tiềm tàng to lớn của một xă hội. Một nước tŕnh độ văn hoá thấp, không thể có một nền sản xuất cao v́ con người là chủ thể của nó. Sự phát triển đồng bộ kinh tế và văn hoá là bảo đảm của phát triển bền vững.

Hưởng thụ văn hoá là nhu cầu của con người. Nhu cầu ấy không chỉ là hạnh phúc, niềm vui, mà c̣n là phương tiện nâng cao tố chất con người, có ư thức trách nhiệm đối với xă hội, phấn đấu trong hoạt động sáng tạo.

Xuất phát từ con người, tât cả v́ lợi ích con người là phương châm chỉ đạo hoạt động của kinh tế.

Hội nhập nền kinh tế toàn cầu, nghĩa là ta cũng phải xây dựng nền kinh tế mới, kinh tế trí thức. Muốn trí thức hoá nền kinh tế, phải có một xă hội trí thức mà ṇng cốt là đội ngũ tài năng, tinh hoa, phải tập hợp trong Đảng cộng sản, Đảng của tinh hoa dân tộc, xă hội.

Đầu tư cho con người là quan trọng nhât, bảo đảm vững chắc nhất sự phát triển của đất nước. Dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ và văn minh là mục tiêu động lực của cách mạng nước ta trong thời kỳ trước mắt. Mọi hoạt động xă hội đều nhằm mục tiêu cơ bản ấy. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nền tảng vật chât- kỹ thuật của một xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Kiên tŕ thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta phải, về mặt tư tưởng, phải đi tiên phong trong thời kỳ mới, khắc phục những tàn dư tư duy cũ đă bị cuộc sống không chấp nhận. Hệ thống chính trị do Đảng lănh đạo phải nhẹ nhàng, không tốn kém, hiệu quả cao, trong sáng, minh bạch. Đời sống xă hội phải hoạt bát, năng động, hoạt bát trên cơ sở một nền dân chủ nhân dân, tự do tư tưởng, ngôn luận. Dân chủ về chính trị đi liền với dân chủ về kinh tế, văn hoá.

Đảng Cộng sản phải là người tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc và xă hội, về đạo đức và phong cách, tiêu biểu của đạo đức cách mạng mà ta đang xây dựng.

Tư tưởng Hồ chí Minh măi măi chỉ đường cho các thế hệ chúng ta./.

Hoàng Tùng

----- O -----

 

Lại một bóng ma của Marx!

 

Lữ Phương

  Anh Phan thân,

Đă nhận được Thời đại mới, tư tưởng mới của Hoàng Tùng anh gửi cùng với thư đề nghị tôi cho biết ư kiến.

Chắc anh đă nhận thấy những sai lầm đầy dẫy trong bản thảo chưa sửa chữa của tài liệu nói trên, về đánh máy, câu cú, dẫn chứng, tên tác phẩm, tác giả, năm tháng v.v... và chắc cũng thấy rất khó có thể coi đó là một công tŕnh nghiên cứu nghiêm chỉnh. Điều mà chúng ta quan tâm ở đây có lẽ là những vấn đề lư luận về chủ nghĩa xă hội do tác giả gợi ra. Những vấn đề này lại liên quan đến việc Đảng cộng sản đang chuẩn bị Đại hội 10 sắp tới, trong việc chuẩn bị này, vấn đề "đổi mới" chủ nghĩa xă hội vẫn là rất quan trọng - nếu không t́m cách làm rơ thêm th́ sẽ không thể nào tiếp tục biện minh cho được "sứ mệnh lịch sử" của Đảng trong hoàn cảnh mới của đất nước.

Tài liệu v́ vậy cũng đáng để mọi người chú ư.


I.

Tôi thấy tác giả đă đưa ra một số luận điểm quan trọng như sau:

  1. Phải khắc phục những sai lầm thiếu sót trong việc thực hiện chủ nghĩa xă hội mácxít bằng cách từ bỏ chính cái mô h́nh chủ nghĩa xă hội hiện thực nhân danh Marx bắt đầu áp dụng từ 1917 với cuộc Cách mạng Nga.

    Chủ nghĩa Stalin với tính chất toàn trị đặc biệt của nó được tác giả nêu đích danh để nói về cái xă hội khép kín, tŕ trệ, bị dân chúng oán ghét và những tội ác do chuyên quyền gây ra. Tác giả đă đưa ra sự so sánh mà ít có ai thuộc "phe ta" từ trước đến nay dám hé môi: "Gengis Khan, Napoléon, Hitler không thể sánh vai với Stalin; Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ, Đường Thái Tôn không thể sánh với Mao Trạch Đông..."!

  2. Giải thích những sai lầm ấy, tác giả đă nêu ra những khiếm khuyết nằm ngay trong cái hệ thống lư luận tạo ra chúng: đó là những khiếm khuyết xuất phát từ học thuyết của Marx với những nội dung chủ đạo như chuyên chính vô sản, cách mạng bạo lực.

    Giao tất cả quyền lực vào tay giai cấp vô sản là biệt phái, không tập hợp được lực lượng rộng răi trong đấu tranh và xây dựng. Mặt khác khái niệm ấy quá nghiêng về sức mạnh của cơ bắp, xem thường vai tṛ của trí thức (mà theo tác giả mới là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển).

    Quá đề cao bạo lực, chuyên chính cũng dẫn đến những hậu quả nguy hiểm. Nó là nguồn gốc của những hành động phiêu lưu, tàn ác, độc đoán với quy mô chưa từng có trong lịch sử.

  3. Từ những nhận định trên đây, tác giả đă phân tích một số bài học và đề xuất phương hướng chấn chỉnh, như làm kinh tế thị trường, giảm nhẹ đấu tranh giai cấp, thừa nhận và hợp tác với nhiều thành phần xă hội khác, xây dựng một thể chế chính trị dân chủ nhân dân, cởi mở, ôn hoà, tự do tư tưởng, ngôn luận v.v... Đối với Đảng cộng sản, tác giả đă gợi ra một số chuẩn mực để cải tổ:

 

6.      Tất cả những luận điểm phê phán và canh tân trên đây đều dựa trên nhận định của tác giả về chủ nghĩa Marx: trên nền tảng, chủ nghĩa Marx vẫn là một "khoa học", so với nhiều học thuyết xuất hiện trong thế kỷ 20, vẫn "chưa có học thuyết nào hơn hẳn học thuyết Marx" trong việc t́m ra cho nhân loại con đường có thể thay thế chủ nghĩa tư bản để xây dựng tương lai.

Những sai lầm thiếu sót trong học thuyết Marx, xét cho cùng, vẫn chỉ là những khiếm khuyết của "một khoa học đích thực", có thể bổ sung, nâng cao và làm cho hoàn thiện, để trở thành một học thuyết Marx canh tân, đă được khắc phục những sai lầm, sửa chữa những thiếu sót (từ bỏ những nội dung tả khuynh, nôn nóng, bạo lực, từ chối đối thoại...) để đáp ứng với những biến đổi của hoàn cảnh.



II.

So với quan điểm chính thống của Đảng cộng sản Việt Nam về "chủ nghĩa Mác-Lênin" chúng ta dễ dàng nhận ra ở đây "một cái nh́n lại" khá triệt để, táo bạo. Tuy vậy khi đối chiếu giữa lư luận và thực tế, tôi thấy tài liệu có rất nhiều gượng ép và thiếu nhất quán.

7.      Tác giả xác quyết rằng, trước hoàn cảnh mới của đất nước Đảng cộng sản cần phải thay đổi về cả một mô h́nh chứ không phải là vá víu lại cái cũ. Nhưng đối với một đảng cộng sản thoát thai từ chính cái mô h́nh cũ (chủ nghĩa Stalin, Mao Trạch Đông, Quốc tế Ba...), kế hoạch thay đổi phải như thế nào cho triệt để (nhất là về phương thức hoạt động...) th́ không hề nghe tác giả nói đến.

Làm sao để một đảng mà bản chất là chuyên chế, khắc nghiệt, coi chân lư chỉ thuộc về ḿnh có thể trở thành một đảng của khoan dung, đối thoại, dân chủ, nhân đạo, trong sáng, minh bạch? Làm sao một đảng như vậy có thể chuyển thành "người tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc và xă hội" khi những màn thường trực về "Đảng cử dân bầu" vẫn được tŕnh diễn, việc bỏ tù, khuấy rối những trí thức lẻ loi đang vượt qua sợ hăi để bày tỏ trách nhiệm của ḿnh trước vận mệnh chung của đất nước vẫn cứ tiếp tục?

Làm sao có thể thực hiện cái mà tác giả gọi là "dân chủ chính trị" định nghĩa là một "nền dân chủ nhân dân" trong khi Đảng chưa chịu xoá bỏ vai tṛ độc tôn của ḿnh bằng Điều 4 của Hiến pháp và vẫn tiếp tục sử dụng điều 4 đó để bảo vệ sự độc tôn cho cái hệ tư tưởng gọi là "chủ nghĩa Mác-Lênin"mà tác giả đă phê b́nh?

8.      Sự tin tưởng mà tác giả dành hầu như tuyệt đối cho Hồ Chí Minh, với khẳng định rằng "tư tưởng Hồ Chí Minh măi măi chỉ đường cho các thế hệ chúng ta", cũng gây ra cho người đọc (ngay cả những người ủng hộ tác giả) cái cảm giác về một lập luận có khá nhiều gượng ép. Khẳng định đó là không nhất quán với sự phê phán triệt để của tác giả về cái mô h́nh Stalin, Mao Trạch Đông đầy sai lầm.

Làm sao có thể gạt Hồ Chí Minh ra ngoài cái mô h́nh ấy khi tác giả đă đi ngược lại những cứ liệu lịch sử tạo nên Hồ Chí Minh với tư cách là một nhân vật của cả một phong trào quốc tế trong suốt thế kỷ 20: một học tṛ trung thành của Lenin, một nhân vật trong Quốc tế Ba, một người đă đem chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông về Việt Nam trong quá tŕnh chống thực dân và giành quyền lực cho Đảng cộng sản?

Làm sao tác giả không biết rằng những sai lầm mà Đảng cộng sản Việt Nam đă mắc phải cũng chính là những sai lầm khi Hồ Chí Minh đang là lănh tụ cao nhất của Đảng và đang phất cao ngọn cờ "tiến lên chủ nghĩa xă hội" của Đảng? Hàng loạt những chính sách nhân danh cuộc "tiến lên" ấy đem đến không biết bao đau thương cho nhân dân như cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, cải tạo tư sản, đấu tố, chỉnh huấn, Nhân văn-Giai phẩm, Chống xét lại..., diễn ra trên đất nước ngay thời Hồ Chí Minh c̣n sống chẳng đă chứng minh cho điều đó hay sao?



III.

Theo tôi, những gượng ép, bất nhất trên đây đă bắt nguồn từ cái tổng kết về lư luận của tác giả.

9.      Tác giả tỏ ra quá dễ dăi khi vẫn khẳng định học thuyết Marx là một "khoa học" sau khi đă phê phán những bất toàn trong học thuyết đó. Đối với những người nghiên cứu đứng ra được bên ngoài hệ tư tưởng Stalin, th́ học thuyết Marx không hề tự chứng tỏ được là một khoa học về giải phóng xă hội mà chỉ là những suy lư triết học về sự giải phóng đó.

Nó được xây dựng từ những sự kiện có nguồn gốc trong thực tại (cuộc đấu tranh giữa chủ và thợ) nhưng đă vượt khỏi thực tại để trở thành những khái niệm của một hệ thống tư biện về thực tại (sự xung đột sinh tử giữa tư bản và vô sản) từ đó phóng chiếu thành sự vận động chung cuộc cho lịch sử con người.

Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản trong học thuyết Marx về thực chất chỉ là những sản phẩm của cuộc vận động triết học ấy: sự sụp đổ của cái này tất yếu sẽ dẫn đến cái lôgích sinh thành cho cái kia, đó chỉ là sụp đổ và sinh thành của những khái niệm, không phải là "quy luật khách quan" của thế giới hiện thực. [Tôi đă chứng minh tính chất tư biện này một cách chi tiết trong Chủ nghĩa Marx và Cách mạng vô sản Việt Nam.]

10.  Không nh́n học thuyết Marx như một hệ thống, trong khi đó lại từ bỏ những điều cốt yếu làm nên ư nghĩa đặc trưng cho hệ thống ấy (giai cấp vô sản, bạo lực cách mạng) tác giả đă biến nó thành một học thuyết cải cách tầm thường với những lời ta thán tầm thường: chủ nghĩa tư bản sẽ không thể tồn tại được v́ nó "quá béo", "quá độc ác" hoặc "quá béo v́ quá độc ác".

Có thêm vào đó cái lập luận cho rằng chủ nghĩa tư bản đó cũng sẽ phải chết là do "cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang chuẩn bị một xă hội thay thế nó" th́ sự việc cũng không v́ thế mà trở nên nghiêm trang hơn. Chỉ là những khẳng định vu vơ, mờ mịt, kiểu "thành trụ hoại không", chẳng có ǵ đáng gọi là "khoa học" cả.

11.  Thực sự th́ khi đưa ra những phê phán và cải tổ chủ nghĩa Marx như trên, tác giả đă làm một công việc rất quan trọng: ông đă gỡ bỏ cái kíp nổ làm cho chủ nghĩa Marx được gọI là cách mạng. Cái ng̣i nổ ấy, đối với Marx, ai cũng biết, đó là giai cấp vô sản.

Và khi làm như vậy, ông đă làm cho cuộc cách mạng vô sản của Marx trở thành cuộc cách mạng không có chủ thể và cái thế giới tương lai của Marx trở thành một khoảng trống mịt mùng. Một thế giới chỉ tồn tại trong huyễn hoặc và đă bị từ bỏ như một huyễn hoặc.

Ngoại trừ một số điều c̣n có thể giữ lại theo truyền thống tư duy của một xu hướng trí thức khuynh tả nào đó. Một tiếng "không" với mọi nguyên trạng c̣n đầy dẫy bất toàn và một hy vọng về một tương lai tốt hơn có thể đạt được bằng cải cách hoà b́nh.



IV.

Tôi cho rằng những biện luận của tác giả về tiền đồ chủ nghĩa Marx như vậy tất yếu sẽ dẫn đến một h́nh thức nào đó của chủ nghĩa Marx bị xét lại.

12.  Hiện tượng này không mới đối với phong trào cộng sản hiện đại, nội dung chủ yếu của nó là gạt ra khỏi cương lĩnh cải tạo xă hội của ḿnh cái phần cốt yếu tạo nên chủ nghĩa Marx: giai cấp vô sản dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản, thực hiện chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ. Lư luận này đă ra đời từ cuối thế kỷ 19 ở châu Âu, nhưng sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nó đang được những nhà lư luận cộng sản Trung Quốc đem ra sử dụng lại.

Đây là một điều mới thực sự. Những thứ lư luận này của Trung quốc đă được giới thiệu vào Việt Nam khá nhiều, gần đây, có cuốn Chủ nghĩa xă hội, bước ngoặt sáng tạo của Tiêu Phong (Thế giới đương đại xb, 2003) được dịch làm tài liệu tham khảo phổ biến trong giới nghiên cứu ở Việt Nam. Tôi thấy lập luận của Hoàng Tùng đă tiếp cận khá thân thiết với khuynh hướng cải cách chủ nghĩa Marx theo con đường của các tác giả Trung Quốc: về mặt lư luận có thể gọi đó là chủ nghĩa xă hội dân tộc, cải lương, để đối lập với thứ chủ nghĩa xă hội cũ quốc tế và cách mạng.

13.  Nhưng theo tôi, thứ chủ nghĩa dân tộc cải lương này, tuy có nhiều điểm giống với Bernstein hoặc Kautsky, nhưng, xuất hiện trong điều kiện thế giới hiện nay, ư nghĩa của nó rất đặc biệt. Nó được đưa ra không phải để giành chính quyền mà là để củng cố việc nắm quyền của đảng cộng sản trong điều kiện chủ nghĩa xă hội sau hơn nửa thể kỷ thí nghiệm đă phá sản hoàn toàn.

Với tính toán ấy, khi nói đến tính chất "khoa học" của nghĩa Marx người ta chỉ cố giữ cho được hai vế kết luận gắn liền nhau: chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ sụp đổ cùng với sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng trước câu hỏi "chủ nghĩa tư bản sẽ chết như thế nào, chừng nào sẽ chết" để chủ nghĩa cộng sản ra đời th́ câu trả lời lại rất vu vơ: có thể vài thế kỷ, cũng có thể hơn nữa hoặc chỉ biết nói "hồi sau sẽ rơ" là xong!

Trong khi chờ đợi một tương lai mờ mịt như vậy th́ để sống c̣n, các đảng cộng sản đương quyền được phép làm tất cả: học tập chủ nghĩa tư bản, trở về với Quốc tế Hai, lấy các tầng lớp trung lưu tư sản làm chỗ dựa, lấy quyền lợi dân tộc làm chuẩn mực cao nhất trong quan hệ quốc tế. Và cứ như thế mà tồn tại trong cơ chế một đảng cầm quyền, không ai thay thế được, vĩnh viễn cùng với quá tŕnh chờ đợi sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản để "tiến lên"!

14.  Chắc anh cũng đồng ư với tôi rằng thứ lư luận về canh tân trên đây, mới nghe qua th́ thấy táo bạo, hấp dẫn, thực chất vẫn là một thứ chủ nghĩa Lênin "vận dụng" vào một hoàn cảnh mới: v́ lợi ích của cách mạng vô sản, trong những t́nh thế nghiệt ngă, những người cộng sản phải biết lùi bước và phải biết thoả hiệp với tất cả những thế lực nào có thể thoả hiệp.

Mục đích không có ǵ khác là cố gắng duy tŕ cho được quyền lực độc tôn của đảng cộng sản đối với xă hội. Mọi thứ thao tác ư thức hệ (chủ nghĩa Marx khoa học, vay mượn lư luận của Quốc tế Hai, học tập chủ nghĩa tư bản...) đều nhằm mục đích đó: tạo ra một nhân danh mới, một tính chính đáng mới (dễ chịu hơn) cho một đảng cộng sản đă ra đời từ cái mô h́nh Quốc tế Ba, với một quá khứ đầy tai tiếng. Do vẫn chưa vượt ra khỏi những toan tính đó, những bất cập trong lập luận đi đôi với thái độ nửa vời của tác giả đă nói ở trên là không tránh khỏi.

Tôi thấy ở Việt Nam đă có những đề xuất minh bạch, nhất quán hơn tác giả rất nhiều: nếu thật sự muốn canh tân chủ nghĩa xă hội theo con đường dân chủ và ôn hoà th́ cũng phải chuyển hoá đảng cộng sản thành đảng dân chủ xă hội, chấm dứt toàn trị, chấm dứt độc tôn, hoạt động dưới sự kiểm soát của một nhà nước pháp quyền, một chế độ chính trị đa nguyên, thực hiện những chính sách phúc lợi, ưu tiên bảo vệ những người lao động...



Không thể khác hơn, v́ chỉ có trong điều kiện đó mới có thể nói đến chủ nghĩa xă hội có cái đuôi "thị trường" đi theo và tiếp tục viện dẫn Marx với cái học thuyết Marx đă được canh tân. Những đề nghị có nội dung như vậy đă xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng rất tiếc, lại không được tác giả tham khảo, thừa kế.


V.

Để kết luận, tôi cho rằng Thời đại mới, tư tưởng mới của Hoàng Tùng có giá trị không cao về mặt lư luận: nó không đẩy sự phê phán khởi điểm đến những kết luận tương xứng, không tạo ra được một hệ thống lập luận nhất quán, chặt chẽ. Dù vậy, cùng với sự lên tiếng của nhiều trí thức khác gần đây, những ư kiến của tác giả trong t́nh h́nh hiện nay vẫn có tác dụng tích cực. Chúng tạo thành một sức ép tổng hợp buộc những người lănh đạo Đảng phải quan tâm đúng mực đến những báo động tiềm tàng từ lâu nay đă bộc phát thành những tiếng nổ: mô h́nh xây dựng cũ đă hoàn toàn phá sản, phải thay bằng một mô h́nh mới trong đó nhu cầu dân chủ hoá đời sống văn hoá-chính trị gắn liền vớí nhu cầu phát triển kinh tế-xă hội đang trở nên cấp bách chưa bao giờ như bây giờ.

[.....]

Thân

11-4-05

L.P

© 2005 talawas

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Make your own free website on Tripod.com